
Nhà văn Nguyễn Trương Quý: Nói về một Hà Nội “tuỳ biến” qua văn chương
Trong một cuộc trò chuyện với nhà văn Nguyễn Trương Quý, diện mạo Hà Nội trong văn chương từ đầu thế kỷ XXI đến nay đã hiện diện trong mối quan hệ với “cái bóng” của các tác giả kinh điển, với sự suy giảm của văn hóa đọc cùng với những biến đổi sâu sắc của đời sống thị dân. Từ góc nhìn của một kiến trúc sư viết văn, anh phân tích Hà Nội như một không gian “tùy biến”, nơi con người và các lớp ký ức đô thị luôn phải thích ứng, xen cấy và tái cấu trúc để tồn tại.
Bên cạnh việc chỉ ra những giới hạn trong hệ sinh thái xuất bản và tiếp nhận văn chương hiện nay, Nhà văn Nguyễn Trương Quý cũng gợi mở các mạch chất liệu còn bỏ ngỏ của Hà Nội đương đại – Đó là những trải nghiệm đang diễn ra mỗi ngày nhưng chưa được kết tinh thành các hình tượng văn học đủ sức nặng, đây cũng là lời gợi ý dành cho thế hệ viết trẻ trong việc tiếp cận Hà Nội không bằng hoài niệm, mà bằng quan sát trực tiếp và trải nghiệm sống của chính mình.

Nhà văn Nguyễn Trương Quý. Ảnh: Dân trí
Diện mạo Hà Nội trong văn chương đương đại
Anh nhận thấy “tâm thế” của Hà Nội trong văn chương đầu thế kỷ XXI đến nay đã thay đổi như thế nào so với giai đoạn trước? Liệu chúng ta đã thoát khỏi “cái bóng” quá lớn của Thạch Lam hay Vũ Bằng để bước vào một Hà Nội hiện đại chưa?
Nhà văn Nguyễn Trương Quý: Nói riêng về văn chương Hà Nội thì có thể tách thành 2 mảng khá rõ rệt. Một là các sách dạng khảo cứu, luận đề. Với thể loại này, Hà Nội hiện lên như một đối tượng thẩm mỹ và tri thức. Hai là sáng tác hư cấu như truyện ngắn, tiểu thuyết lấy bối cảnh Hà Nội. Thực tế là rất nhiều người viết sống ở đây, làm ở các cơ quan truyền thông, hoặc viết tự do… Hà Nội “thường trực” trong đời sống của họ, nên bối cảnh đường phố, ngõ ngách, nhịp thị dân hiển nhiên đi vào trang viết.
Nhưng nếu so với những giai đoạn trước, tôi nghĩ từ đầu thế kỷ XXI đến nay, những câu chuyện về Hà Nội đã phân tán hơn và khó “vào khuôn” hơn. Đây không chỉ là câu chuyện của văn học, mà là xu hướng chung của các ngành công nghiệp văn hoá như âm nhạc và điện ảnh. Mình đặt một câu hỏi tương tự ở lĩnh vực khác, câu trả lời cũng sẽ bị kéo về cùng một trạng thái: Mọi thứ có tính cá nhân hơn, đa hướng hơn, không còn dễ quy đồng như trước.
Ngày trước, trong một giai đoạn dài, Hà Nội thường được văn chương “kiến tạo” như một đô thị mang tính biểu tượng văn hóa – chính trị – tinh thần, khớp với nhu cầu tuyên truyền và nhu cầu “lấy Hà Nội làm điểm tựa”. Thời thuộc địa và hậu thuộc địa, Hà Nội còn gắn với tâm thế dân tộc chủ nghĩa, với ký ức của một đất nước và một trật tự văn hóa. Thời chiến tranh, Hà Nội lại hiện ra rõ rệt như một mẫu số sử thi – kiểu những tác phẩm mang giọng sử thi anh hùng, dễ nhận diện ngay.
Còn bây giờ, Hà Nội bước vào đời sống thị dân với va chạm, xung đột, những đổ vỡ giá trị cũ và việc hình thành giá trị mới trong một bối cảnh xã hội biến động. Thành phố khó quy về một biểu tượng duy nhất nữa.
Nếu điểm qua một “tiến trình” của những gương mặt từng viết Hà Nội, tôi nghĩ có thể nhắc: Tô Hoài như một người đứng ở đoạn chuyển tiếp giữa nhiều thời kỳ, rồi đến những người về sau như các nhà văn như Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn với các tản văn/bút ký cho phép ghi chép trực tiếp, thoải mái, “đường phố” hơn. Còn ở mảng tiểu thuyết, phải nói thật là hiện nay có những cuốn về Hà Nội “khó đọc” hơn, không dễ nắm bắt ngay, nhưng lại chạm vào các tầng tâm lý – cấu trúc xã hội của một đô thị đang biến động.
Có ý kiến cho rằng văn chương về Hà Nội hiện nay đang bị “mắc kẹt” giữa ca ngợi giá trị xưa cũ và sự lạc lõng trước đô thị hóa. Anh nhìn nhận quan điểm này thế nào?
Nhà văn Nguyễn Trương Quý: Tôi nghĩ còn một thực tế quan trọng hơn: Độ tập trung của công chúng vào văn chương đã khác. Ngày trước, rất nhiều người có thể cùng đọc một cuốn sách; văn học là một phương tiện truyền tri thức và giải trí lớn. Nhưng từ khi Internet và mạng xã hội bùng lên, đặc biệt sau giai đoạn Facebook phổ biến, mọi thứ đảo lộn. Người ta có quá nhiều lựa chọn nội dung, quen với dạng ngắn và việc đọc văn chương vốn đòi kiên nhẫn trở thành xa xỉ với nhiều người.
Thêm nữa, các thế hệ trẻ ngày nay không còn một “chuẩn ngữ liệu” chung như trước, bị phân mảnh, việc đọc bị chi phối bởi nhiều mục tiêu khác. Trong bối cảnh đó, không phải vì Hà Nội không có tác phẩm mới mà vì thật ra các bạn có đọc đâu.
Thực ra có những tác phẩm đáng đọc, chỉ là ít được nhắc. Ví dụ, tiểu thuyết của “Cậu Ấm” của Trần Chiến hay các tác phẩm của Tô Hải Vân; hoặc một bạn trẻ khác là Bình Phương…
Chúng ta hay bị ám ảnh bởi những giá trị kinh điển cũ, trong khi lại không đủ chú tâm để quan sát văn học hiện đại. Cái “mắc kẹt” đôi khi không chỉ nằm ở người viết, mà nằm ở hệ sinh thái tiếp nhận: Đọc ít, nhắc ít, lan tỏa chậm. Khi ta cứ lấy những giá trị kinh điển ấy làm chuẩn đầu tiên, thì văn chương hiện đại – vốn phân tán và nhiều “vết nứt” lại càng khó được nhìn nhận đúng.
Vậy theo anh, “từ khóa” nào đại diện cho chân dung Hà Nội trong văn học những năm gần đây?
Nhà văn Nguyễn Trương Quý: Chọn một từ thì hơi khó. Từ đầu tiên tôi nghĩ đến là “tùy biến”. Mọi người có thể quen với từ linh hoạt hay linh động nhưng “tùy biến” thì đúng hơn vì nó trung tính, gồm cả cái tốt và xấu. Nó liên quan đến từ mobility trong tiếng Anh – một sự chuyển động liên tục và tìm cách thích ứng.
Người Hà Nội có một cơ chế “tự vệ” và thích nghi trước những thay đổi khó lường: Từ hệ thống quản lý đô thị, điều kiện kinh tế, đến những biến động của đời sống. Tùy biến trở thành một đặc tính bền bỉ.
Nếu thêm một từ nữa để hình dung, tôi nghĩ đến “xen cấy”. Giải thích cho dễ hiểu thì bạn sẽ thấy Hà Nội có nhà ống nhiều tầng, mọi người sẽ tận dụng để “xen cấy” thêm không gian – Gắn thêm, cố gắng chen cài thêm, cải thiện thêm để khoác áo mới cho những giá trị cũ.
Văn chương dưới góc nhìn khảo cứu trữ tình
Với nền tảng là một kiến trúc sư, việc nhìn Hà Nội qua cấu trúc không gian và hình khối ảnh hưởng thế nào đến cách anh viết? Tính “thiết kế” thể hiện ra sao trong văn chương của anh?
Nhà văn Nguyễn Trương Quý: Người học kiến trúc sẽ có một thói quen nhìn không gian như một cấu trúc vật lý: Lối vào ở đâu, tỷ lệ thế nào, màu sắc, khoảng trống, bên cạnh có gì… Mắt gặp là phản xạ định vị, rồi sơ đồ hóa. Khi viết, tôi cũng hay mang theo thói quen ấy: Mình tiếp cận cái gì, giải quyết cái gì, viết cho ai, nhằm mục đích gì. Nó khá “thực tế” vì cần đo đếm và lường trước.
Ngày đi học, có những môn rèn kỷ luật rất khổ: Nét 0.3 dùng làm gì, nét 0.5 như thế nào. Mọi thứ phải đều, phải đúng quy chuẩn. Người học kỹ những thứ đó sẽ hình thành ý thức về cấu trúc, lâu dần thành thói quen. Nhưng người viết thì không thể chỉ dừng ở bề mặt vật lý, vì như thế thì chán. Cái khó là từ cấu trúc không gian, mình đi tiếp sang lớp chữ nghĩa: Chọn từ, tạo biểu tượng, dựng một “mạch” để không gian có nghĩa.
Vì sao anh chọn cách viết khảo cứu trữ tình, vừa khoa học nhưng phải dễ đọc cho khán giả?
Nhà văn Nguyễn Trương Quý: Tôi có một mối quan tâm là các dữ liệu văn hóa như thơ, văn, nhạc đã “định hình” Hà Nội như thế nào. Tôi muốn thử đối chiếu: Hình ảnh Hà Nội đi ra từ dữ liệu ấy khác gì so với thực địa và làm sao nối lại hai thứ đó.
Nói đơn giản, tôi muốn biến thơ, nhạc, văn chương thành một kiểu “bản đồ cảm giác” – Giống như khi đi một nơi nào đó, tự nhiên mình nhớ những bộ phim, những câu chuyện, và cảm giác ấy làm trải nghiệm dày lên. Tôi làm việc theo hướng đó: Vừa đi, vừa học, vừa thử nối các lớp Hà Nội lại với nhau.
Bạn có thể thấy rõ cách viết này trong “Triệu dấu chân qua những cửa ô”: Viết sao để người đọc vừa nhìn ra những dữ kiện mới ngay trong chính những điều mà họ đã trải nghiệm trong đời sống.

Tác phẩm “Triệu dấu chân qua những cửa ô” của nhà văn Nguyễn Trương Quý. Ảnh: VOV
“Nuôi dưỡng” những cây bút trẻ trong bối cảnh Hà Nội hiện đại
Theo anh, đâu là những trở ngại lớn khiến người trẻ khó viết hoặc viết chưa sâu về Hà Nội?
Nhà văn Nguyễn Trương Quý: Viết là việc rất cá nhân và phần lớn là tác giả phải tự chịu trách nhiệm với mình. Tôi không tin lắm vào việc cứ phải có hội hè, hội nghề nghiệp thì mới viết được. Cái cần là các bạn tự nhìn sâu vào chính mình: Có gì day dứt, có nỗi sợ nào ngăn các bạn đặt bút không? – Thực ra để viết thì bạn lại cần quan sát chính mình nhiều hơn là quan sát thế giới ngoài kia.
Nhưng khó khăn của người trẻ không chỉ nằm ở ý chí viết, mà nằm ở hệ sinh thái nâng đỡ. Một tác giả trẻ thiếu biên tập viên cứng, thiếu người đọc tinh, thiếu kênh giới thiệu năng động, thiếu phê bình và hệ thống truyền thông cởi mở… Nhiều khi công tác biên tập cũng không tốt, tác giả vừa đáng thương vừa đáng giận: Đáng thương vì không có người nâng; đáng giận vì đôi khi chưa đủ nghiêm khắc với chất lượng bản thân.
Văn chương muốn sống được cũng cần một mức bao cấp nhất định. Chỉ đòi thị trường tự nuôi văn chương thì rất khó. Ngay chuyện dịch thuật cũng vậy: Muốn văn chương Việt Nam ra thế giới mà không có tiền trả dịch giả thì không thể.
Về chất liệu Hà Nội, theo anh có mảng nào còn bị bỏ ngỏ, nhất là với thế hệ trẻ?
Nhà văn Nguyễn Trương Quý: Đầu tiên là nhóm chất liệu về tuổi mới lớn. Thật ra các bạn có nhiều câu chuyện ở dạng này nhưng lại chưa đóng mạch được thành những hình tượng văn học tiêu biểu: Tuổi 17-20 với trường lớp, đi qua những ngõ ngách của thành phố, những công việc đầu đời; hay tuổi 22-25 bước vào guồng mưu sinh với những va đập đầu tiên với nhịp sống thị dân, với hệ thống, với các kỳ vọng của gia đình – xã hội cùng cảm giác vừa hụt hẫng vừa thương khi thành phố thay đổi nhanh hơn cả tốc độ lớn hơn của chính mình. Câu chuyện ở đây không phải Hà Nội hoài niệm hay sử thi mà là Hà Nội của một thế hệ đang học cách sống, lớn lên và thích ứng.
Tôi nghĩ đây là một kho chất liệu giàu có nhưng thiếu vắng cây bút thực sự làm nên chuyện. Những năm trước cũng có những cây bút trẻ viết chất liệu này nhưng rồi các bạn không chọn văn chương làm hướng đi chính của mình. Theo tôi, để viết được mảng chất liệu này, người viết phải sát sao với đời sống thật, đồng thời, có một nền tảng văn hóa đọc đủ rộng ở lứa tuổi đó để nâng đỡ.
Nhóm chất liệu thứ hai cần được để tâm là vùng ven, nông thôn quanh Hà Nội. Mảng này có lẻ tẻ, có các lát truyện ngắn hoặc những đoạn liên quan đô thị hóa, nhưng để thành một mạch chuyên đề mạnh thì vắng. Lứa trước có, còn lứa trẻ thì có vẻ bỏ qua nhiều. Tôi muốn nhắc đến một ví dụ kinh điển là “Ngoại ô’ của Nguyễn Đình Lạp – một cuốn tiểu thuyết mà tôi cho là hấp dẫn nhất của Hà Nội trong giai đoạn 1930 – 1945 nhưng lại quá ít được nhắc đến. Cuốn sách này mở ra cảm quan về vùng ven đô rất rõ ràng.
Nhóm chất liệu này cũng vướng phải một vấn đề rằng có những làng nghề, câu chuyện đã biến mất dù chỉ cách trung tâm Hà Nội 20-30km. Nếu không đi thực địa, bạn không có chất liệu thật để viết.
Để khuyến khích người trẻ viết về Hà Nội nhiều hơn, theo anh thì ngành xuất bản cần làm gì?
Nhà văn Nguyễn Trương Quý: Cần một hệ thống đỡ từ nhiều phía: Xuất bản, biên tập, kênh truyền thông, phê bình, cộng đồng độc giả. Nhiều hoạt động hỗ trợ người trẻ thường manh mún, vận hành vất vả, thiếu người chuyên trách. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, vấn đề vẫn quay về chỗ: Văn chương cần một hệ sinh thái đủ kiên nhẫn để “nuôi” dài hơi, chứ không phải chỉ làm theo phong trào.
Và người trẻ cũng cần tự mở đường: Không nhất thiết phải chờ “đồng viết” hay chờ ai gọi tên. Viết là việc cá nhân, nhưng nếu có thêm những kênh đọc – giới thiệu – biên tập nghiêm túc, thì người trẻ sẽ đỡ đơn độc hơn rất nhiều.
Cảm ơn chia sẻ của anh!


